Nhớ thương đồng đội - Đói cơm, nhạt muối không sờn - Hồi ký: Phạm Huy Chương
Kỷ niệm 79 năm ngày Thương binh Liệt sỹ (27/7/1947 – 27/7/2026
NHỚ THƯƠNG ĐỒNG ĐỘI - ĐÓI CƠM NHẠT MUỐI KHÔNG SỜN
Phạm Huy Chương ghi theo lời kể Hoàng Tuân
Cuộc chiến tranh vệ quốc giành lại độc lập thống nhất nước nhà đã đi qua hơn 50 năm nhưng đến nay tôi vẫn còn nhớ mãi khắc ghi những hình ảnh, những con người, những đồng đội thân yêu của chúng tôi đã hiến trọn tuổi thanh xuân hy sinh vì độc lập tự do của Tổ quốc.
Không bao giờ tôi quên kỷ niệm ghi xương khắc cốt quãng đời quân ngũ của tôi những lần đầu tiên ra trận, tìm địch, gặp địch, đánh địch như thế?
Sau cuộc Tổng tiến công Tết Mậu Thân 1968, bị đánh bất ngờ Mỹ ngụy thua đau, về phía ta không ít nơi cũng bị tổn thất mất mát... Điên cuồng trả thù ta, địch tăng cường lực lượng nống ra và trấn áp ta ở nhiều nơi tại mặt trận Trị - Thiên. Lúc đó cũng là mùa mưa đến, quân ta do lương thực, vũ khí, khí tài đều thiếu thốn. Để bảo toàn lực lượng, ta tạm rút một phần lên những cánh rừng Trường Sơn bạt ngàn miền núi phía tây Thừa - Thiên. Hòng tìm, tiêu diệt lực lượng quân giải phóng của ta, địch tăng cường đánh phá bằng máy bay, pháo kích. Chúng đổ quân chiếm giữ những địa bàn quan trọng nhằm cắt đứt và cô lập Quân giải phóng với dân, với đồng bằng, thành phố. Khoảng tháng 9-1968, ba trung đoàn lính ngụy vây chốt tại khu vực A Sầu, A Lưới. Đơn vị chúng tôi bị cô lập, thiếu gạo, muối, vũ khí, thuốc men. Đói triền miên, hết gạo, đến sắn cũng chẳng đủ ăn. Hàng ngày thay nhau ra suối kiếm rau, cua ốc. Kiếm thứ gì ăn được là mang về cho mọi người cùng ăn. Thậm chí con cá cóc cũng bắt đem về nấu với rau tàu bay. Đặc biệt là có thời gian hơn ba tháng bị thiếu muối. Qua tiếp xúc với người dân tộc Pa Kô được biết dân đã dùng than nứa tươi ngâm vào nước, bóp nhỏ gạn lấy nước để ăn thay muối. Bằng cách đó đồng bào vẫn sống khỏe mạnh bình thường. Tôi đã phổ biến kinh nghiệm đó cho anh em đơn vị, mọi người đã làm và nạn thiếu muối tạm thời được khắc phục. Các đơn vị bạn cũng làm theo khi biết tin. Anh em trong đơn vị đã coi sáng kiến đó của tôi như một "phát minh" giúp mọi người sống để chiến đấu.
Thiếu và đói nhưng đơn vị chúng tôi vẫn liên tục phải bám, nắm để đánh địch. Vào khoảng 3 giờ chiều của một ngày tháng 11-1968, trung đội tôi được phân công bám địch ở quả đồi A3 cách thung lũng A Lưới khoảng 15km về phía tây. Căn cứ đó địch nhằm trấn cứ sân bay Tà Lương và đường xuống đồng bằng. Sau gần 3 giờ hành quân bám địch, chúng tôi đã tới sát được quả đồi A3. Quan sát thấy địch đã đổ xuống đó 3 chiếc máy ủi, đã san phẳng được một bãi khá rộng, khoảng 4.000 đến 5.000m2. Chúng đã dùng máy bay trực thăng hai chong chóng, cẩu đến 2 chiếc lô cốt di động bố trí vòng quanh khu vực mới san. Để nắm chắc tình hình địch, bảo đảm cho phương án đánh, tiêu diệt cứ điểm này được chuẩn xác, tôi quyết định chia trung đội thành 3 mũi, tiếp tục bám, nắm địch. Mũi phía Tây do tôi trực tiếp chỉ huy. Mũi phía Bắc do đồng chí Tưởng chỉ huy. Mũi phía Nam do đồng chí Văn chỉ huy.
Chúng tôi chia nhau về các hướng. Được một lúc, hướng đồng chí Nguyễn Văn Tưởng vấp phải mìn hỏa lực, địch thấy động bắn ra như mưa. Dưới những quầng sáng mìn nổ, lửa đạn chúng phát hiện rõ vị trí mũi tiến quân ta, chúng áp chế hỏa lực và bủa vây, lao xuống bắt sống được đồng chí Tưởng người chỉ huy mũi tiến công đảm nhận rút cuối cùng để đánh chặn quân địch cho anh em rút ra an toàn. Do bị thương nặng không rút kịp chúng đã bắt được anh mang lên đồi tra khảo. Ngày hôm sau khoảng 2 giờ chiều, đồng chí Sách - Tiểu đoàn trưởng xuống dẫn đại đội tôi lên đồi A3 để đánh địch giải cứu đồng đội. Khoảng 5 giờ chiều hôm đó chúng tôi bám sát quả đồi A3. Tôi và anh Sách trèo lên một cây cao quan sát địch. Chúng tôi nhìn thấy đồng chí Tưởng bị địch trói trần rồi vào gốc cây, trên người anh bị lột trần còn mỗi quần đùi, chân quấn băng trắng, hai thằng ngụy cầm gậy thay nhau đập vào người đồng chí, nhưng không thấy một tiếng kêu la. Nhìn chúng đánh tra tấn anh mà lòng chúng tôi đau nhói con tim, giàn giụa nước mắt thương xót anh. Sau khoảng 20 phút im lặng quan sát, đồng chí Sách gạt nước mắt bảo tôi xuống cây về vị trí tập kết. Đồng chí đã ra lệnh cho đơn vị, đêm nay phải cứu bằng được đồng chí Tưởng. Sau khi đã thống nhất phương án, khoảng 10 giờ đêm chúng tôi bắt đầu tiến đánh địch.
Đêm trời tối, địch lại phòng thủ rất kỹ càng và xảo quyệt. Chúng cài đủ các loại mìn trên các hướng từ chân đồi kéo lên để phòng chặn ta đánh lại. Chúng tôi đang áp sát, đồng chí Ái quê ở Thái Bình đã vấp trúng phải một quả mìn. Mìn nổ, đồng chí Ái hy sinh. Chúng tôi phải chuyển sang đánh theo phương án cường tập. Hỏa lực B40, B41, trung liên bắn cấp tập vào trận địa địch. Dưới sự yểm trợ của hỏa lực toàn đơn vị, chúng tôi xông thẳng vào khu vực địch đóng quân, dùng AK, thủ pháo tiêu diệt địch.
Địch bị tấn công bất ngờ, lực lượng chính bị tiêu diệt, số còn lại chạy tán loạn sang đồi bên. Ta hoàn toàn làm chủ trận địa. 62 tên địch bị tiêu diệt tại chỗ, ta thu nhiều súng đạn và đồ dùng quân dụng. Về phía ta hy sinh và bị thương 7 đồng chí.
Sáng hôm sau trở lại tìm kiếm đồng đội thương binh, tử sỹ. Chúng tôi phát hiện ra một tử sỹ bị cháy đen do địch tưới xăng vào người và đốt. Nhìn rõ cả hàm răng nhe ra thật tàn bạo quá, tôi chợt thấy một chiếc răng vàng ở bên phải chồi ra, nhận ra đó là đồng chí Nguyễn Văn Tưởng, quê ở xã Cảnh Hưng, huyện Tiên Sơn - Hà Bắc nay là tỉnh Bắc Ninh, bị chúng giết một cách dã man. Anh em chúng tôi trào rơi nước mắt khóc xót thương anh – người anh, người đồng đội thương yêu của chúng tôi trong lúc nguy nan nhất đã nhận hy sinh thân mình che chở cho đồng đội. Anh đã sống và chiến đấu dũng cảm, chết vẻ vang.
Tôi vẫn nhớ. Ngày ấy anh em chúng tôi gồm 165 anh em là giáo viên, cùng lên dường nhập ngũ một ngày, cùng trong Đại đội Giáo dục Ngô Gia Tự (Hà Bắc) theo tiếng gọi của Tổ quốc đã lên đường cầm súng vào Nam chiến đấu bảo vệ Tổ quốc. Khi đất nước thống nhất chỉ còn 66 đồng chí trở về hậu phương. 99 đồng đội của chúng tôi đã để lại xương máu và hy sinh như thế ở chiến trường Trị - Thiên trên dải Trường Sơn hào hùng của Tổ quốc.
Sắp đến ngày kỷ niệm TBLS 27/7. Nhớ đến các anh những đồng đội thân yêu của chúng tôi đã anh dũng hy sinh vì độc lập tư do cho tổ quốc ghi lại mấy dòng này xin được coi như nén hương thơm của quê nhà thắp cho các anh, ghi nhớ công ơn của các anh hùng liệt sỹ đời đời bất diệt để có tổ quốc Việt Nam hùng cường như hôm nay.
HOÀNG TUÂN kể PHẠM HUY CHƯƠNG ghi
Hội VHNT Trường Sơn tỉnh Bắc Ninh