GƯƠNG CỰU CHIẾN BINH - LÀNG NGHỀ
Ông Quyến (đứng thứ hai bên phải sang) nhận bằng khen Doanh nhân xuất sắc
Ông Nguyễn Văn Quyến sinh năm 1950 ở một làng quê nghèo, giàu truyền thống cách mạng. Thuộc thôn Thiết Bình, xã Vân Hà, huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh, nay là xã Vân Hà, huyện Đông Anh Hà Nội.
Cuộc chiến tranh chông Mỹ cứu nước đã lên tới đỉnh cao, tổng động viên, cả nước đánh Mỹ; phong trào góp sức người sức của “Thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người”; Phong trào “Ba sẵn sàng” thanh niên nam nữ tình nguyện tham gia quân đội để được trực tiếp cầm súng đánh giặc, trả thù cho đồng bào miền Nam bị Mỹ, Diệm lập ấp, tàn sát sát dã man người dân vô tội. Ở miền Bắc có cơ hội cùng quân dân, dưới sự chỉ đạo của Đảng, Bác Hồ chặn đứng các cuộc leo thang của giặc Mỹ, bắn phá miền Bắc giết hại dân thường ở tất cả các thành phố lớn như Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định, Nghệ An, Việt Trì v..v..
Ông tình nguyện và được nhập ngũ tháng 1 năm 1971, đợt của ông được phiên chế vào Tổng cục hậu cần: Trung đoàn N71, đơn vị tập trung huấn luyện tại huyện Mai Sơn, tỉnh Hòa Bình (Khu vực dốc Cun). Sau huấn luyện 6 tháng ông được điều động cùng một số đồng đội trong tổng cục hậu cần nhận nhiệm vụ hậu cần, sau thời gian ngắn đơn vị di chuyển vào chiến trường B (Miền Nam). Đơn vị có nhiệm vụ chế tác, quản lý thủy điện, phục vụ hậu cứ, sản xuất chế biến lương thực: Ngô sợi, sắn sợi, quản lý các kho lương thực để nuôi quân chiến đấu. Hành quân mấy tháng ròng mới tới Khâm Đức tỉnh Quảng Đà là nơi đơn vị đặt chân đầu tiên tại miền Nam. Trên đường hành quân dù gian khổ, hiểm nguy rình rập, trèo đèo, lội suối, nào mưa rừng, nắng lửa, nào vắt muỗi rừng Trường Sơn. Những cơn sốt rét hành hạ bản thân và đồng đội. Những lúc này lời mẹ dặn lại văng vẳng bên tai như tạo thêm nghị lực, bản lĩnh anh bộ đội cụ Hồ được tỏa sáng. Sau ngày hòa bình ông tâm sự lúc ấy là chiến thắng cả chính mình, quyết giữ trọn lời thề với Tổ quốc, với cha mẹ, anh em, đồng chí đồng đội. Dù có phải hy sinh cũng là niềm vinh quang cho Tổ quốc và gia đình.
Tâm sự đến đây, bỗng ông trầm ngâm nghĩ lại quãng thời gian 7 đến 8 năm dầm sương, dãi nắng, mưa dầm cơm vắt của đời lính, là lính hậu cần tuy không trực tiếp đánh giặc nhưng có lúc lên cứ lấy hàng và chuyển hàng xuống đồng bằng cho đội biệt động ở vùng giáp ranh (Ở vùng giáp ranh ban ngày là lính Ngụy gồm lính chủ lực, lính Bảo An kiểm soát; ban đêm bộ đội mình quản), đã có lần gặp biệt kích, nhóm của ông đã mưu trí, anh dũng đánh trả, đánh lạc hướng tốp biệt kích mới thoát chết. Ông kể mà tôi hình dung như sự việc mới xảy ra hôm qua, ông có thời gian vài tháng không nhìn thấy hạt gạo chỉ có ngô sợi, sắn sợi cùng các loại rau rừng, trong khi đó đêm ngày vẫn phải bảo quản kho tốt, hậu cần tốt, đảm bảo vũ khí, lương thực cho bộ đội đánh giặc.
Đúng 28/3/1975 Đoàn N71 từ Tây Nguyên xuống tiếp quản Đà Nẵng. Năm 1976 Chuyển về Nha Trang tiếp nhận tàu hàng ở cảng. Sau đó đơn vị ông được điều động lên Tây Nguyên đánh bọn “Pull Rô”, tiếp quản một số doanh nghiệp cơ khí, máy móc để cải tạo sử dụng và sản xuất. Chính thức năm 1978 ông được đi điều dưỡng và được ra quân, về cơ quan cũ làm giáo viên trường công nhân kỹ thuật 1 thuộc Bộ cơ khí luyện kim.
Vợ ông là bà Nguyễn Thị Thảnh cùng quê với ông, hiện nay đang làm nghề và cùng ông quản lý công việc. Ông bà sinh được 3 con; 2 trai, 1 gái cả 3 cháu cũng theo nghề truyền thống của ông (Nghề mộc mỹ nghệ truyền thống), với sự cố gắng, kiên trì học hỏi, sáng tạo của bản thân, ông đã vinh dự được nhà nước phong tặng danh hiệu cao quý: Nghệ nhân ưu tú; Hiện nay đang trong Ban chấp hành Hiệp hội làng nghề Việt Nam; đang trong BCH hội CCB thành phố Lào Cai. Trong Ban thường vụ, BCH Liên minh hợp tác xã tỉnh Lào Cai; Chủ tịch Hội Doanh nhân CCB thành phố Lào Cai . Điểm trụ sở: ở Ngô Văn Sở, phường Lào Cai, thành phố Lào Cai nơi giới thiệu sản phẩm.
Ngừng một lát ông vô tư kể tiếp, nhìn vóc dáng, phong độ ông, tôi ngưỡng mộ tài năng của ông, ông được trời ban cho đôi bàn tay tài hoa, bộ não thông minh, bản chất trong ông hôm nay được kế thừa từ cha, mẹ ông từ cái nôi cách mạng, bản lĩnh, tố chất được hun đúc từ người lính Cụ Hồ qua những năm tháng ở chiến trường. Chính vì thế dù làm chủ 2 cơ sở làm nghề mộc thủ công mỹ nghệ, đội thợ lành nghề có lúc tới 70 người, lúc ít cũng phải trên 30 người. Doanh thu hàng năm từ 2 đến 3 tỷ đồng, lợi nhuận có từ 200 triệu đến 300 triệu đồng một năm. Nói về thành tích của ông, ông khiêm tốn trả lời: Có gì đâu, một phần là do bản thân còn một phần do tập thể đã rèn luyện và tạo dựng để tôi có được như hôm nay: Bằng khen và giấy khen có tới 50 chiếc, nhưng cao quý và trân trọng đó là được Nhà nước phong tặng danh hiệu Nghệ nhân ưu tú, 01 bằng khen của Thủ tướng chính phủ; và bằng khen của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn; của Bộ công thương; BK Hội Chữ thập đỏ Việt Nam; BK của Hiệp hội Doanh nhân CCB Việt Nam. Ngoài ra còn được tặng nhiều Kỷ niệm chương: Của Liên minh hợp tác xã Việt Nam; của Bộ KH- Đầu tư; của UBND tỉnh Lào Cai tặng KNC. Ông được Nhà nước mời đi dự hội nghị Doanh nghiệp khối ASEAN, đi dự ở các nước châu á: gồm Nhật Bản, Hàn quốc, Đài Loan.v..v..
Thành tích của ông khá nhiều, giàu có đấy nhưng ông vẫn sống rất giản dị, rất khiêm tốn, ở khu phố, với bạn bè, đồng đội, với họ mạc anh em trong gia đình đức tính ấy để nhiều người nể trọng và gần gũi ông hơn. Và ông có được thắng lợi như hôm nay tôi cảm ơn những thế hệ đi trước, cảm ơn sách, những người thầy và nhớ lại câu châm ngôn của một triết gia nổi tiếng là: “ Chiến thắng lớn nhất là chiến thắng chính mình”, của nhà thơ Tố Hữu nói về Trường Sơn: “Trường Sơn Đông nắng, Tây mưa - Ai chưa đến đó thì chưa rõ mình”
Chính sách vở là người thầy, chiến tranh và cuộc sống đã dậy và rèn luyện ông trưởng thành; Trong chiến đấu đối mặt với kẻ thù đã rèn ông chiến thắng chính mình. Con đường binh nghiệp nhiều hiểm nguy rình rập, thiếu cơm, thiếu thuốc sốt rét, mỗi khi gặp cơn sốt rét, chiến thắng bệnh tật để có sự sống mới có cơ hội hoàn thành nhiệm vụ. Hòa bình về quê hương, học làm thầy, học làm người cũng phải chiến thắng chính mình, đem trí tuệ, bàn tay vàng truyền nghề cho bao lớp trẻ và nhất là vượt qua cả một thời bao cấp. Cơm vẫn ít phải ăn bo bo, ăn độn khoai sắn nhưng ông vẫn quyết tâm giữ nghề truyền thống. Phát huy trí tuệ vươn lên làm giàu chính đáng không bị cám dỗ bởi đồng tiền, danh vọng. Chính vì thế, ông mới có 2 cơ ngơi như hôm nay: Ông có Hai phân xưởng sản xuất chế biến thô và chế biến tinh, sản phẩm đạt chấy lượng cao xuất đi nhiều nơi trong cả nước theo đơn đặt hàng.
Cuộc sống vợ chồng ông giờ đây thanh thản với cuộc sống, với cuộc đời. Ông tự nói, cuộc sống có gian nan mới có thành công, nhưng bản chất của con người Việt Nam thật thà, khiệm tốn học hỏi, không ngừng phấn đấu vươn lên mới hòa nhập được với mọi thử thách đổi mới hôm nay.
Trần Văn Lục
Hội viên Hội VHNT Trường Sơn