SÔNG SON VÀ THỊ TRẤN TROÓC
Tiền thân của Trung đoàn 14 mà tôi từng phục vụ chính là Binh trạm 14 anh hùng – những người đã mở lối cho con đường 20 Quyết Thắng huyền thoại. Điểm khởi đầu Km00 của con đường tuổi hai mươi ấy bắt đầu từ chính bến sông Son – nơi này thuộc thị trấn Phong Nha, huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình (Quảng Trị), vốn là bến phà Xuân Sơn năm xưa.
Ký ức về một thời hoa lửa luôn sống động qua lời kể của những người trong cuộc. Như đồng chí Nguyễn Tất Huấn bồi hồi nhớ lại, trong suốt những năm tháng từ 1967 đến khoảng tháng 6/1969, anh phải thường xuyên hành quân từ Hương Đô (nơi đặt Bộ Tư lệnh 500) để vào Binh trạm 12 rồi cắt sang Binh trạm 14. Tuyến đường huyết mạch ấy từ Binh trạm 12, vượt qua Đèo Đá Đẽo hiểm trở rồi rẽ vào làng Tróoc để nằm chờ lệnh vượt phà Xuân Sơn. Làng Tróoc ngày ấy trong ký ức người lính là một bức tranh đầy tương phản: Một ngôi làng nhỏ nép mình bình yên dưới lèn đá dựng đứng, bên dòng suối chảy lờ đờ thơ mộng, nhưng trớ trêu thay, nơi ấy lại chính là "cái rốn" của những trận mưa bom bi và rốc-két ngút trời.
Để bảo vệ cho mạch máu giao thông ấy luôn thông suốt, suốt từ năm 1967 đến năm 1973, biết bao máu xương của các lực lượng đã đổ xuống. Trong đó, không thể không nhắc đến những người lính phòng không bảo vệ bầu trời. Đồng chí Đỗ Việt, cựu chiến sĩ Đại đội 9, Tiểu đoàn 103, Trung đoàn 280 pháo cao xạ 37 ly, từng chia sẻ về những kỷ niệm không thể nào quên. Ngày ấy, đơn vị của anh chính là lá chắn thép, chốt giữ và bảo vệ tất cả các mục tiêu trọng điểm trải dài từ Đèo Đá Đẽo, sân bay dã chiến Khe Gát, làng Tróoc, phà Xuân Sơn cho đến Km00 bước vào Đường 20 Quyết Thắng. Dưới làn chớp bom gầm rú, những khẩu pháo 37 ly của các anh vẫn kiên cường hướng lên trời cao nhả đạn, đánh trả máy bay Mỹ để che chở cho từng đoàn xe, từng chuyến phà sang sông.
Chị Hạnh, một người con của xứ Vinh sinh năm 1955, từng cùng cơ quan với tôi, cũng nhớ lại:
"Chị đi thanh niên xung phong từ năm 1973, có thời kỳ đơn vị phải trú quân ngay trong động Phong Nha".
Cũng bởi thế mà khi ngồi trên con thuyền xuôi dòng vào lòng động, nhìn những ngấn nước in hằn thật cao trên vách đá vôi, tôi khẽ hỏi cháu lái đò: "Chú nghe nói mùa lũ lên, nước dâng ngập hết cả cửa hang?" Cháu lặng lẽ gật đầu. Nước sông Son mùa lũ dữ dội là thế, nhưng làm sao nhấn chìm được những năm tháng thanh xuân kiên cường của một thế hệ. Trong tâm tưởng của cánh lính chúng tôi, bến sông Son và cửa động Phong Nha ngày ấy là một "tọa độ lửa" đúng nghĩa. Ban ngày máy bay trinh thám quần thảo chụp ảnh, ban đêm pháo sáng thả rực trời. Giặc Mỹ ném bom nát cả bến phà, bắn rocket vào tận cửa hang nhằm đánh sập cửa động, chặn lối rà phá bom từ trường. Cửa động Phong Nha khi ấy đầy vết khói bom loang lổ, đá hộc sạt lở, lòng hang vừa là kho giấu phà, giấu ca nô, vừa là nơi trú quân che chở cho hàng trăm bộ đội, thanh niên xung phong dưới làn mưa bom bão đạn.
Một người chị khác, chị Hoàng Lan – chiến sĩ Đại đội 20 thuộc Trung đoàn 14, nhập ngũ trước năm 1975 và từng tham gia thi công Đường 20 Quyết Thắng – từng bùi ngùi viết lại về những gian khó, hiểm nguy ngay cả khi hòa bình vừa lập lại. Thời kỳ ấy thiếu thốn đủ bề, thuốc nổ phải để chung với gạo và lương thực vì không có kho riêng. Chị kể rằng sau ngày 30/4/1975 không lâu, một vụ nổ lớn đã xảy ra khiến lán trại cháy rụi, chị chỉ kịp lao vào ôm lấy chiếc gối – nơi giấu ít tiền gia đình gửi vào để dành dụm mai này vào Nam mua chút quà mang về Bắc. Sau tai nạn kinh hoàng đó, bộ đội phải dắt dìu nhau ra thị trấn Tróoc ở nhờ nhà dân.
Thế nhưng, đằng sau cái "sự cố" tưởng như do sơ sểnh ấy, lại là một góc khuất lịch sử đầy xót xa mà chỉ những người lính cùng thời mới thấu tỏ. Anh Vũ Công Trọng đã lên tiếng chia sẻ và xác nhận sự thật về vụ cháy kho năm ấy, một câu chuyện mà anh và anh Lê Xuân Côi (khi đó anh Trọng ở C4 xe máy, còn anh Côi ở C23 cầu phà, cả hai đơn vị đều đang thi công đường 15C chạy dọc theo con sông Chày Tróoc) đều biết rất rõ. Vụ nổ kho đại đội C20 hoàn toàn không phải do sơ suất, mà là một hành vi cố tình hủy hoại chứng cứ?
Chuyện rằng, một người quản lý tên Song do tham nhũng, làm thâm thủng nghiêm trọng ngân quỹ và kho lương thực của đại đội nên đã liều lĩnh cài bộc phá đốt kho nhằm xóa sạch dấu vết. Vào cái thời điểm năm 1975 ấy, hạt gạo quý hiếm hơn vàng. Nhưng có lẽ gã quản lý ấy vẫn còn sót lại một chút tình người. Tối hôm đó, sau khi châm ngòi bộc phá xong, gã liền hô hoán thất thanh: "Có người đốt bộc phá!". Cả Đại đội 20 lúc ấy đang họp nghe tiếng báo động liền bỏ chạy tán loạn. Khi mọi người chạy được chừng hơn trăm mét thì tiếng nổ định mệnh vang lên. Lán trại tan hoang, khói lửa ngút trời, nhưng may mắn thay không có ai thương vong. Ở cách đó gần một cây số, cánh lính anh Trọng, anh Côi bên đường 15C vẫn nghe thấy tiếng nổ đanh tai, rùng mình như tiếng bom dội thời chiến tranh. Tróoc ngày đó hoang vu, nghèo xơ xác, đất đá cày xới, ấy vậy mà người dân vẫn mở rộng vòng tay, nhường cơm sẻ áo, cho bộ đội C20 tá túc qua những ngày lán trại tan hoang.
Vụ việc động trời ấy, đồng chí Hoàng Tiến Đạt sau này kể lại đầy tường nhận, bởi chính anh là người trong cuộc. Khi tên Song bị áp giải lên Trung đoàn bộ để lấy lời khai, cánh lính các anh được lệnh thay nhau gác nghiêm ngặt. Hôm ấy, đúng vào ca gác của đồng chí Đình Lập, lợi dụng lúc sơ hở khi xin đi tắm, tên Song đã nhanh chân đào tẩu. Ngay trong đêm, toàn đội nhận lệnh khẩn, bổ đi tìm kiếm thâu đêm suốt sáng xuyên qua những cánh rừng, những lối mòn rậm rạp của vùng đất Quảng Bình nhưng bóng chim tăm cá, gã đã cao chạy xa bay. Nhưng lưới trời lồng lộng, trốn sao khỏi kỷ luật quân đội. Sau một thời gian rà soát, tung tích của gã bị phát hiện khi đang lẩn trốn ở quê nhà Hà Nam. Đơn vị lập tức cử anh Nguyễn Duy Liên, một người con quê Yên Thành (Nghệ An), lặn lội ra tận nơi để vây bắt và di lý gã về lại Trung đoàn chịu tội trước pháp luật. Cái giá phải trả cho sự tham lam giữa thời gian khổ thật quá đắt.
Nhiều năm dài đã đi qua... Bến sông Son, động Phong Nha và thị trấn Tróoc giờ đây đã khoác lên mình tấm áo mới, khang trang và thanh bình đến ngỡ ngàng.
Dòng sông Son – vốn một thời ngầu đỏ phù sa mùa lũ hay rực màu lửa đạn – nay đã trở lại với vẻ đẹp huyền diệu, trong vắt một màu xanh ngọc bích phẳng lặng như gương. Sông nước mềm mại vắt qua thung lũng, ôm lấy những bãi ngô, vườn chuối tươi tốt và những nếp nhà yên bình. Cửa động Phong Nha rêu phong, kỳ vĩ nay tấp nập thuyền bè chở du khách nhịp nhàng xuôi ngược, không còn một dấu vết nào của khói bom năm cũ. Thị trấn Tróoc (vùng ngã ba Khe Gát năm xưa) giờ đã đổi thay, đường Hồ Chí Minh nhánh Tây rải nhựa phẳng lì, quán xá mọc lên san sát. Sân bay dã chiến Khe Gát khốc liệt năm nào giờ đã được xếp hạng di tích lịch sử quốc gia, nằm bình yên giữa thung lũng xanh. Tiếng cười nói rộn ràng của phiên chợ Tróoc khiến vùng đất từng chịu nhiều vết thương chiến tranh trở nên trù phú, đầy sức sống. Dòng suối lờ đờ thơ mộng cạnh lèn đá năm xưa giờ chứng kiến nhịp sống mới yên bình, không còn tiếng rít xé tai của rốc-két hay nỗi ám ảnh độc hại của bom bi.
Trên bến đò Xuân Sơn ngày nay, đông đảo du khách thập phương dập dìu đến tham quan, thưởng ngoạn danh thắng Phong Nha. Tại các quầy lưu niệm, người ta vẫn nâng niu bày bán những chiếc mũ tai bèo của giải phóng quân năm xưa. Trên vành mũ, dòng chữ thêu tay dung dị mà kiêu hùng như gieo vào lòng người một khoảng lặng tri ân:
"Trường Sơn đông nắng, tây mưa,
Ai chưa đến đó như chưa hiểu mình."
Câu thơ như một cái neo thời gian, nhắc nhớ thế hệ hôm nay về một thời gian lao mà oanh liệt. Và minh chứng hùng hồn nhất cho một thời oanh liệt ấy chính là tấm bia kỷ niệm di tích lịch sử bến phà Xuân Sơn, nay đã được dựng lên sừng sững, trang nghiêm ngay phía bên kia bến đò, bên bờ Bắc sông Son. Tấm bia như một chứng nhân vĩnh cửu, lặng lẽ soi bóng xuống dòng nước trong xanh, tạc vào lòng đất trời Quảng Bình công ơn của những người đi mở đường.
Nhưng những câu chuyện góc khuất, những ký ức về Binh trạm 14, Trung đoàn 14 trên con Đường 20 Quyết Thắng và thị trấn Tróoc năm xưa giờ chẳng còn mấy người kể lại. Bởi lẽ, những chàng trai, cô gái đôi mươi ngày ấy giờ đều đã bước vào tuổi 70, hoặc đã về với đất mẹ. Hôm trước, tình cờ xem trên mạng bảng tin các Cựu quân nhân Binh trạm 14 họp mặt nhân ngày thành lập binh trạm, tôi cứ bùi ngùi đếm đi đếm lại những gương mặt trong ảnh.
Tóc đã bạc, da đã mồi, và ngậm ngùi và vinh quang thay...
Đại úy, kỹ sư: Nguyễn Minh Quang
Nguyên Ban Tham mưu Trung đoàn 14 Sư đoàn 565