Kỷ niệm 79 năm Ngày Thương binh Liệt sỹ (27/7/1947 - 27/7/2026)
NGƯỜI KHÔNG TRỞ VỀ
Hồi ký: ĐÀM LƯU HÀO
Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cả năm anh em trai trong gia đình chúng tôi đều nhập ngũ. Cho tới năm 1979, Tổ quốc thống nhất đã được 4 năm, cùng đoàn quân chiến thắng ca khúc khải hoàn, bốn người anh lớn chúng tôi lần lượt trở về quê hương. Về với mẹ đang ở thị trấn Từ Sơn và về với làng Tấn Bào thân yêu của mình sau bao năm xa cách đi chiến đấu nơi chiến trường xa. Duy chí còn Đàm Mạnh Hùng, người em trai út của tôi vẫn bặt vô âm tín. Ai nấy thấp thỏm lo âu. Nhất là mẹ tôi, ngày ngày cứ đỏ mắt ngóng chờ.
Vào buổi sáng ngày đầu tháng 7 năm 1980, có một thanh niên hỏi thăm đến nhà tôi. Anh tự xưng tên là Lùn, đồng đội cùng chiến đấu với Hùng, người còn sống sót duy nhất trở về. Chắc chắn rằng Hùng đã gặp chuyện chẳng lành, sợ mẹ xúc động, tôi kéo Lùn ra riêng một chỗ kín đáo để nói chuyện. Lùn kể lại tấm gương hy sinh anh dũng của Hùng và tội ác dã man của kẻ địch.:
“Đó là một ngày đầu mùa mưa năm 1970, đoàn cán bộ của đơn vị các anh đi chuẩn bị cho trận đánh phục kích tại khu vực đập nước Cẩm Ly thuộc huyện Phú Cát tỉnh Bình Định. Sau khi đã trinh sát, nghiên cứu kỹ địa hình, địa vật chiến trường, các anh nán lại chờ trời sáng để quan sát cho rõ và chính xác hơn trận địa một lần nữa, để tối hôm sau sẽ đưa bộ đội xuống đánh. Bỗng tiếng chim từ trong các bụi cây chiu chít la hoảng, chứng tỏ là có động rồi. Linh tính mách bảo có điều gì khác thường xảy đến, các anh vội nhanh tản ra nghe ngóng. Bất chợt từng loạt đạn bắn tới dồn dập. Tiếp đó là tiếng la hét của mấy tên lính ngụy: "Đù mẹ Việt cộng, chúng bay bị bao vây rồi, hàng thì sống ....". Chỉ chờ có thế để xác định vị trí kẻ thù, các anh lập tức dùng hoả lực đánh trả quyết liệt. Trước hết là quật ngã bọn đến gần, làm chúng hoảng loạn phải dạt ra xa. Tuy nhiên thấy tình thế vẫn rất bất lợi, các anh đã bí mật rút khỏi vị trí chiến đấu.
Loạt đạn đầu của địch băm nát đùi trái của Hùng. Anh khuỵu xuống, nhưng vẫn kịp bắn trả một loạt dài dập tắt hoả lực địch, rồi tự xé băng quấn vội. Lùn đang định rút, thấy Hùng bị thương, anh xốc nách định cõng Hùng đi nhưng không kịp, địch đã ào đến, vây xung quanh các anh. Trời sáng rõ, địch thấy ta chỉ còn hai người, lại bị thương, tên tiểu đoàn trưởng hét lính: "Không đứa nào được bắn chết, phải bắt sống cả hai thằng này". Hắn nói chưa dứt lời đã đổ sập vì bị một loạt đạn chính xác của các anh găm trúng người. Bọn còn lại phải lùi ra xa. Chúng bắn như đổ đạn về phía các anh. Hùng lại bị đạn bắn trúng đùi phải. Anh ngất đi giây lát; khi tỉnh lại, tiếp tục dùng tiểu liên, lựu đạn đánh trả quyết liệt. Bọn địch muốn bắt sống các anh, nhưng không tên nào dám đến gần. Chúng hò hét chửi bới, xô đẩy nhau, nhưng hễ cứ tên nào mon men nhích lại là lập tức bị tiêu diệt. Máu ra nhiều, Hùng lại choáng ngất, rồi lại tỉnh. Anh ra lệnh cho Lùn: "Để đạn lại, rút ngay, tôi yểm hộ!". Lùn còn chần chừ vì không nỡ bỏ đồng đội trong lúc hiểm nguy này. Hùng quát to: "Rút ngay để bảo toàn. Tôi bị thương nặng rồi không đi được, có tôi yểm hộ!". Nói xong, Hùng bắn một loạt đạn dài và tung liền hai quả lựu đạn về phía địch, đè bẹp chúng xuống để Lùn rút an toàn. Còn lại một mình, Hùng rất bình tĩnh, thay băng đạn, rút chốt lựu đạn, cầm sẵn trong tay. Địch hò nhau ào đến bu lấy anh định bắt sống. Bất chợt Hùng bật dậy, buông lựu đạn. Anh hô lớn: "Bác Hồ muôn năm!". Cùng với tiếng hô là tiếng nổ xé trời. Bọn địch gục ngã đè lên nhau, giãy giụa, kinh hoàng! Trận địa bỗng lặng đi như tờ hồi lâu, rồi lại vang lên tiếng kêu khóc của những tên địch bị thương. Bọn còn lại tức điên như muốn chết đứng…”
Kể đến đây, Lùn trở nên trầm ngâm, rồi giọng nói đanh lại, như muốn triết lý một điều gì, nhìn anh trái hẳn với nét mặt rụt rè, hồn hậu ban đầu: Giọng anh trùng xuống chảy hai dòng nước mắt xuống đôi gò má xương, gày rung bật bật.
- Chắc chắn rằng cho tới mãi sau này, những tên địch sống sót còn phải giật mình kinh hãi trước tinh thần chiến đấu quả cảm kiên cường phi thường và sự hy sinh oanh liệt của Hùng. Chúng sẽ không bao giờ hiểu được vì sao một chiến sĩ Giải phóng quân dám chọn cho mình một cái chết kiên trung như thế trước giặc thù!
Xòe cả năm ngón tay lau hai hàng nước mắt giàn dụa chảy trên khuôn mặt, Lùn kể tiếp: Cũng nhờ loạt đạn hoả lực của Hùng đè bẹp địch xuống mà Lùn đã nhanh chóng thoát ra khỏi vòng vây địch. Anh nhào xuống sông lặn một hơi, chui vào bụi gai rậm, nhô đầu lên quan sát. Vị trí anh núp cách chỗ Hùng nằm khoảng 50 mét, nhưng đầy gai góc kín đáo nên địch không phát hiện được. Lùn đã chứng kiến tận mắt hành động hy sinh anh dũng của Hùng. Anh không cầm được nước mắt vì khâm phục, vì thương xót người đồng đội, người đồng hương yêu dấu của mình.
Lùn vừa bị thương, lại vừa phải ngâm mình dưới nước để tránh địch mãi cho đến tối. Khi địch rút hết, bà con cơ sở mới ra thu lượm thi hài của Hùng và sục tìm được Lùn. Khi đó người Lùn đã lạnh cứng và hầu như không biết gì. Bà con vớt Lùn lên, xoa dầu, lấy thuốc cho anh, giấu anh xuống hầm bí mật rồi sau đó tìm cách đưa anh vào nhà thương để chữa chạy. Ít ngày sau sức khoẻ ổn định, Lùn được cơ sở đưa theo đường dây ra ngoài Bắc. Ra đến miền Bắc, anh lại phải vào viện điều trị, rồi đi an dưỡng. Sau đó được phép xuất ngũ trở về hậu phương.
Lùn còn kể: Đơn vị có hơn 10 anh em cùng quê tỉnh (Hà Bắc cũ) nay là tỉnh Bắc Ninh, cùng nhập ngũ một ngày, vào đầu mùa xuân năm 1968. Các anh rất thương yêu nhau và cùng hẹn ước “Vào bộ đội đi chiến trường hãy thi đua diệt thật nhiều địch để xứng đáng với lòng mong đợi và truyền thống của quê hương. Trong chiến đấu dù gian khổ khó khăn đến mấy cũng không được thoái thác. Dẫu phải hy sinh chứ quyết không để địch bắt. Nếu ngày chiến thắng trở về, ai còn sống thì có trách nhiệm đến thăm và báo tin cho gia đình những đồng đội đã bị hy sinh…”. Vì nghĩ rằng gia đình Hùng cũng đang chờ tin Hùng từng giờ từng phút, nên Lùn rất phân vân. Và những đồng đội cùng chiến đấu với anh trong trận đó chắc chắn là không còn ai trở về. Anh vẫn tự nhủ phải thực hiện bằng được lời ước hẹn. Nhưng mãi đến hôm nay, Lùn mới có đủ can đảm, tình người đồng đội đã cùng nhau chiến đấu được sống sót trở về tìm đến gia đình Hùng để báo tin và kể lại về tấm gương dũng cảm hy sinh của người con ưu tú quê hương Từ Sơn, trên chiến trường đánh Mỹ - Ngụy năm xưa.
Sau buổi được gặp gỡ Lùn, anh em trong gia đình chúng tôi bàn định với nhau tìm cách để nói hết sự thật với mẹ nhưng làm sao không để mẹ bị sốc khi biết những tin đau đớn này. Tôi xin phép không phải nói nhiều về nỗi đau khổ của mẹ, mà cho mãi đến tận hôm nay cũng khó có thể nói rằng đã bớt nguôi ngoai. Tuy nhiên, chờ mãi không thấy xã, huyện và tỉnh nói gì về sự hy sinh của Hùng, chúng tôi đành phải đến gặp cơ quan chính sách kể lại câu chuyện của Lùn. Khi đó địa phương mới báo tử cho Hùng.
Liệt sỹ Đàm Mạnh Hùng là con trai thứ 5 trong gia đình tôi. Vì đã có 4 anh trai tại ngũ đang chiến đấu ở chiến trường xa, nên theo chính sách thì Hùng được ở lại để chăm nom mẹ già và gia đình. Nhưng trong không khí cả nước sôi sục lên đưòng đánh Mỹ, Hùng đứng ngồi không yên. Chú ấy đã nhiều lần đến gặp cơ quan quân sự để xin nhập ngũ. Nhưng khi thấy hoàn cảnh của gia đình, lãnh đạo địa phương động viên Hùng ở lại. Hùng phải chạy lên chạy xuống nhiều lần, rồi viết dơn tình nguyện cả bằng máu để xin đi cho bằng được. Trước ngày lên đường, Hùng còn giành một buổi để dọi lại mái nhà tranh cho mẹ và giành đến cả đồng tiền tích góp cuối cùng của mình để mua thuốc dự phòng cho mẹ, mua sách cho em gái học. Vì Hùng biết rằng, là đứa con trai cuối cùng ra đi không biết bao giờ mới trở về, mẹ và các em không còn ai để nhờ cậy, nên chú ấy muốn bù đắp cho mẹ và em thật nhiều.
Mẹ tôi kể lại, biết Hùng được nghỉ mấy ngày trước khi trả phép đi chiến trường B, cụ định cưới vợ cho chú ấy, nhưng chú ấy chỉ cười bảo "Mẹ ở nhà cứ “rấm” cho con một cô, giải phóng miền Nam con về là cưới ngay và đẻ liền cho mẹ 10 đứa cháu, cho bà nội tha hồ bế bồng!".
Sau 3 năm Hùng lên đường, tôi có dịp ghé qua nhà, thấy mẹ rụng gần hết răng, tóc bạc trắng chỉ còn thưa thớt. Tôi thương mẹ quá. Hỏi ra mới biết từ khi mẹ tiễn đưa đứa con trai cuối cùng lên đường ra trận không biết sống chết thế nào, từ ngày ấy hình như không đêm nào mẹ ngủ được trọn giấc, nhiều hôm cứ một mình thắp đèn thức chong chong nhìn ảnh các con. Nghe mẹ nói, nhìn mẹ xọm đi, tôi không sao cầm được nước mắt. Tôi thầm hiểu rằng để có những chiến thắng ở chiến trường, chúng tôi đã phải trả giá bằng máu; nhưng có lẽ vẫn không thể sánh được với sự hy sinh cao cả của biết bao người mẹ ở hậu phương đang vò võ ngày đêm khắc khoải ngóng chờ con mình.
Sau 27 năm ngày Hùng hy sinh, vào năm 1997 gia đình chúng tôi mới có điều kiện vào Nam thăm mộ Hùng và nơi chú ấy đã từng chiến đấu và hy sinh. Phần mộ của Hùng và các đồng đội đã được quy tập vào nghĩa trang, nằm trên một dải đồi bạch đàn uy nghi trầm mặc. Do gặp may hay nhờ linh hồn Hùng run rủi, mà ngay từ phút đầu tới địa phương, tôi đã gặp được những người vốn là cơ sở nằm vùng thời chống Mỹ. Họ biết rất rõ về Hùng. Khi biết người nhà đến tìm Hùng, họ vô cùng xúc động và kể lại: Nơi các anh chiến đấu và anh dũng hy sinh ngay dưới gốc cây xoài già, sát chân đập nước Cẩm Ly. Kẻ địch cay cú vì trận càn của cả một tiểu đoàn đã bị một tổ chiến sỹ Quân giải phóng bẻ gãy, 18 tên bị tiêu diệt và nhiều tên khác bị thương. Vì hành động dũng cảm của Hùng và đồng đội, kẻ địch vô cùng khiếp sợ mà lại tức tối vì không bắt được anh. Nên khi Hùng đã chết rồi mà chúng vẫn lồng lộn mổ bụng, moi gan chú ấy "xem gan cộng sản to đến mức nào mà dữ vậy”. Rồi chúng tiếp tục hành xác bằng hành động dã man, chặt Hùng ra thành 3 mảnh để trả thù. Thấy vậy bà con thương xót lắm nhưng không có cách gì để cứu Hùng. Phải chờ đến tối, địch rút hết, cơ sở mới ra thu lượm thi hài của Hùng và đồng đội lại, khâm liệm rồi bí mật đưa các anh qua sông và chôn cất trên gò đất đầu làng.
Gương chiến đấu hy sinh anh dũng của Hùng và các chiến sỹ Quân giải phóng đã được bà con địa phương chứng kiến tận mắt. Họ vô cùng khâm phục, và tự hào về những khí phách chiến đấu ngoan cường của các chiến sỹ Giải phóng quân - những người con thân yêu của đồng bào miền Bắc ruột thịt đã trao cho miền Nam thân yêu, để gìn giữ bảo vệ miền Nam thành đồng Tổ quốc. Mọi người khóc thương, quý trọng các anh, coi các anh như những người con anh hùng bất khuất của đất Phù Cát quê hương họ. Biết các anh ở xa, người thân không đến được, nên bà con thường xuyên thay nhau đến đây hương khói. Và hàng năm, cứ đến ngày các anh hy sinh, dân làng lại cúng giỗ các anh như muốn tỏ lòng ngưỡng mộ biết ơn sự hy sinh oanh liệt vì dân, vì nước của các anh.
Nghĩa trang xã Phú Mỹ huyện Phù Cát, nơi Hùng yên nghỉ có 1500 ngôi mộ thì ngót nghét 1000 là vô danh và hầu hết là quê miền Bắc. Bà con kể lại: tỉnh Bình Định là một vùng chiến tranh tàn khốc, nơi kẻ địch muốn cắt đứt, chia nhỏ ra để dễ bề thống trị. Song nhân dân Bình Định đã chiến đấu rất kiên cường, thực hiện khẩu hiệu "một tấc không đi, một li không dời", "còn dân là còn cách mạng". Dù thiếu thốn, ác liệt đến mấy, quân dân Bình Định vẫn bám trụ đến cùng, để bảo vệ quê hương, đất nước.
Trong cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu nước vừa qua, biết bao người con yêu dấu của Tổ quốc đã ra đi từ đất Bắc, các anh đã vĩnh viễn nằm lại trên mảnh đất Thành đồng Tổ quốc. Tôi nghĩ các anh đã chiến đấu xứng đáng với tầm vóc của đất nước và của dân tộc. Các anh không hề đơn độc. Và cho tới tận bây giờ, các anh vẫn sống quây quần ấm áp trong tình đồng đội, nặng nghĩa với đồng bào, đồng chí không bao giờ quên. Âu đó không chỉ là một niềm an ủi mà còn là niềm tự hào của những bà mẹ Việt Nam và tất cả chúng ta đang sinh sống trên dải đất mang hình chữ S hôm nay – Đời đời ghi công và biết ơn các liệt sỹ đã hy sinh quên mình cho độc lập tự do tổ quốc.
CSTS: ĐÀM LƯU HÀO
Hội Trường Sơn tỉnh Bắc Ninh