CHUYỆN VỀ THUNG LŨNG MÙ SƯƠNG
1. Thung lũng Sương Mù
Những năm 1980, Trung đoàn 14, Sư đoàn 565 đóng quân dưới chân núi, thuộc Tiểu khu 10 công trường Thủy điện Hòa Bình. Đường vào trung đoàn đi qua khu lán trại của Công ty Thi công cơ giới và Công ty Thủy công. Từ cổng đơn vị, con đường đá dăm dẫn qua các đại đội, rồi đến Ban Hậu cần, Ban Tài vụ, Ban Chính trị, Sở chỉ huy trung đoàn và Ban Vật tư. Một con đường khác men theo con suối từ trên núi chảy xuống, qua Tiểu đoàn Đường hầm, Đại đội C211, sân bóng trung đoàn, Ban Tham mưu rồi lên các đại đội trên sườn núi.
Trên con dốc dẫn lên Ban Chính trị có một cây nhãn lớn. Mấy chục năm sau trở lại, doanh trại xưa hầu như không còn, nhưng cây nhãn ấy vẫn còn đứng đó như một chứng nhân của năm tháng.
Những năm Trung đoàn 14 thi công Thủy điện Hòa Bình, phần lớn quân số làm việc theo bốn kíp dưới công trường, nhưng mọi nền nếp của một đơn vị chính quy vẫn được duy trì. Sáng thứ Hai chào cờ, tối Chủ nhật điểm danh, sáng nào cũng tập thể dục. Tiếng hô "Một, hai, ba, bốn..." của bộ đội vang khắp thung lũng. Những công nhân ở khu lán trại gần đó nghe tiếng hô cũng thức dậy chuẩn bị cho một ngày làm việc mới. Tiếng hô của người lính trở thành chiếc đồng hồ báo thức của cả một vùng công trường.
Thời kỳ ấy, nhiều đoàn cán bộ, nhà báo, đoàn làm phim quân đội đến Trung đoàn 14 tìm hiểu về những người lính công binh đang ngày đêm đào núi mở hầm. Nhà văn Nguyễn Thị Thu Trang, sau một chuyến đi thực tế, đã viết một truyện ngắn về trung đoàn và gọi nơi đóng quân của chúng tôi bằng một cái tên rất đẹp: "Thung lũng Sương Mù".
Cái tên ấy thật đúng.
Buổi sáng, sương từ lòng sông Đà theo gió len vào thung lũng, phủ mờ doanh trại. Những dãy nhà mái fibro xi măng thấp thoáng trong màn sương, phía xa là núi đá, là tiếng xe, tiếng máy khoan vọng về từ các cửa hầm. Cảnh vật bình yên là thế, nhưng dưới lòng núi, cuộc chiến với đá vẫn diễn ra từng giờ.
Điều kiện sinh hoạt của bộ đội khi ấy còn nhiều thiếu thốn. Nhà ở xây bằng gạch bê tông xỉ, mái lợp fibro xi măng, nền láng xi măng. Mùa đông còn đỡ, mùa hè thì nóng hầm hập. Anh em đi ca đêm về nhiều người phải chui xuống gầm phản, lấy chăn chiên nhúng nước phủ lên người mới chợp mắt được vài tiếng. Có những buổi trưa đi kiểm tra nội vụ, nhìn các chiến sĩ nằm co dưới gầm phản tránh nóng, tôi vừa thương vừa thấy cuộc sống của người lính sau chiến tranh vẫn còn nhiều gian khó. Họ rời chiến trường để bước vào một mặt trận mới - mặt trận xây dựng đất nước - nhưng gian khổ thì vẫn còn nguyên.
Mấy chục năm đã trôi qua.
Những người lính năm xưa nay tóc đều đã bạc. Mỗi lần có dịp trở lại nơi đóng quân cũ, chúng tôi lại lặng lẽ đi tìm những dấu tích của một thời tuổi trẻ. Doanh trại đã chia cho dân ở, nhiều dãy nhà không còn nữa. Hội trường trung đoàn vẫn còn nhưng đã được ngăn thành nhiều căn nhỏ. Chỉ còn ngọn núi đá phía sau doanh trại, con suối nhỏ và cây nhãn trên dốc Ban Chính trị vẫn như cũ.
Chúng lặng lẽ giữ hộ chúng tôi ký ức về một "Thung lũng Sương Mù" không bao giờ phai trong lòng những người lính Trung đoàn 14.
2. Anh Phạm Xuân Hùng
Trong những năm ở Trung đoàn 14, tôi có nhiều đồng đội để nhớ, nhưng mỗi khi nhắc đến anh Phạm Xuân Hùng, tôi lại nhớ đến hình ảnh một người lính cần mẫn và sống rất có tình.
Anh Hùng quê ở Chuẩn Thừng, huyện Kim Môn, tỉnh Hải Hưng cũ. Hồi ấy, anh cùng làm cán bộ đại đội với tôi. Nhiều buổi sáng, khi tôi thức dậy thì anh đã dậy từ bao giờ. Anh quét dọn trong nhà, ngoài sân, tước vỏ cây chuối, dọn chuồng lợn, làm hết việc này đến việc khác trong khi nhiều người còn đang ngủ say. Anh làm việc lặng lẽ, đều đặn như một thói quen.
Sau này, anh chuyển sang làm Đại đội trưởng Đại đội 4 và công tác cho đến ngày nghỉ hưu với quân hàm thiếu tá.
Những năm ấy, việc đi lại còn rất khó khăn. Khi trung đoàn làm thủ tục kết nạp Đảng cho tôi, đơn vị phải cử cán bộ đi thẩm tra lý lịch. Người thì đi được nửa đường rồi quay về, người thì nhân tiện nghỉ phép nên báo không tìm được địa chỉ quê tôi.
Một lần anh Hùng về phép, trung đoàn lại giao cho anh nhiệm vụ ấy. Anh sang gặp tôi, nói rất giản dị:
Cậu vẽ cho tôi đường về quê cậu, ghi rõ thôn, xã và đến đấy thì gặp ai.
Tôi ngồi vẽ cẩn thận. Anh cầm tờ giấy gấp lại bỏ túi.
Ít ngày sau, anh trở lên đơn vị. Anh kể đã đạp xe mất hai ngày mới đến được quê tôi để thẩm tra. Nhờ chuyến đi ấy, ít lâu sau tôi được kết nạp Đảng.
Mấy chục năm đã trôi qua, nhưng mỗi lần nhớ lại, tôi vẫn thấy biết ơn người đồng đội năm ấy.
Một nữ y tá của trung đoàn cũng từng kể với tôi một câu chuyện khác về anh Hùng. Có lần chị bị bệnh nặng, mất nhiều máu, bệnh viện không có sẵn nguồn máu cùng nhóm. Trung đoàn huy động cán bộ, chiến sĩ hiến máu cứu người. Trong số những người tình nguyện hiến máu hôm ấy có nhiều chiến sĩ của đơn vị anh Hùng và cả cháu của anh.
Chị xúc động nói:
Nếu không có anh em đơn vị anh Hùng hiến máu thì em không còn sống đến bây giờ. Em nhớ mãi.
Nhiều năm sau, trong một chuyến công tác ở Kinh Môn, Hải Dương, tôi tranh thủ về thăm gia đình anh. Qua ga Phú Thái, rẽ vào con đường nhựa nhỏ, ngôi nhà hai tầng của anh hiện ra khang trang, thoáng mát. Căn nhà ngói cũ, nơi anh ở từ thời còn quân ngũ, giờ đã bỏ không. Các con anh đều trưởng thành, thi thoảng anh chị lại đến ở với các con vài tháng để trông cháu.
Một lần gặp anh Trà Tứ Quý ở Hải Phòng, anh kể:
Có lần tôi với anh Thành, Đại đội trưởng C211, về nhà anh Hùng chơi mấy ngày. Vẫn như thời bộ đội thôi. Sáng sớm anh Thành dậy tập thể dục, chó cả xóm sủa ầm lên, nhớ mãi.
Bây giờ tuổi đã cao, anh Hùng ít đi họp mặt đơn vị hơn. Nhưng với những người từng sống ở "Thung lũng Sương Mù", anh vẫn là hình ảnh của một người lính tận tụy, sống nghĩa tình và luôn nghĩ cho người khác.
3. Trí
Ở bếp Đại đội C211 của chúng tôi có một chiến sĩ tên là Trí. Trí nhập ngũ năm 1981 từ Thái Bình.
Những ngày đầu vào đơn vị, Trí làm thợ khoan trong hầm. Đó là công việc nguy hiểm nhất của những người lính công binh làm thủy điện. Người ta thường nói đùa rằng: "Vào hầm thì gửi mạng cho đá."
Một lần, trong khi đang khoan, một tảng đá lớn trên vòm hầm bất ngờ đổ xuống. Trí ngã vật ra. May mắn kỳ lạ là tảng đá ấy lại bị chặn bởi một tảng đá khác, đầu của Trí kẹt giữa hai khối đá lớn.
Đơn vị phải dùng máy khoan tay khoan vào khối đá, luồn cáp thép rồi dùng máy kéo mới nhấc được tảng đá ra. Khi đưa được Trí ra ngoài, ai cũng nghĩ đó là một phép màu.
Trí điều trị ở bệnh viện nhiều tháng rồi trở lại đơn vị, nhưng không còn tiếp tục làm thợ khoan nữa mà chuyển sang làm cấp dưỡng.
Năm 1984, Trí xuất ngũ.
Mấy chục năm sau gặp lại, Trí kể với tôi:
Em cũng lên đơn vị mấy lần hỏi xem có được giải quyết chế độ thương tật không, nhưng rồi cũng không được.
Ra quân, Trí làm đủ nghề để sống. Có thời gian đi bán vé số kiến thiết. Đến mùa lễ hội, Trí lại đi gõ trống cho các đám hát văn.
Năm kỷ niệm 45 năm nhập ngũ của bộ đội F565 Thái Bình, tôi về thăm Trí. Gặp lại nhau sau mấy chục năm, câu chuyện đầu tiên Trí khoe không phải chuyện mình mà là chuyện con gái:
Cháu học xong Đại học Sư phạm Hà Nội rồi bác ạ. Giờ cháu dạy học gần nhà.
Nhìn Trí, tôi lại nhớ về những năm tháng đào hầm Thủy điện Hòa Bình.
Thời ấy, đơn vị chúng tôi và công nhân Tổng công ty Xây dựng Thủy điện Hòa Bình có hàng chục người đã mất vì tai nạn lao động. Mỗi lần hoàn thành một ca khoan nổ mìn, bước lên xe trở về doanh trại, ai cũng thở phào vì biết rằng mình vừa đi qua thêm một ngày bình an.
Anh Minh, A trưởng C211, đến giờ vẫn còn nhớ vụ tai nạn mà tôi, anh Trà Tứ Quý và nhiều người cùng chứng kiến. Hôm ấy, đang khoan hầm hành lang cửa van, một tảng đá lớn từ vòm hầm rơi xuống, đập gãy cần khoan máy CBU-2M, sượt qua vai anh Minh làm máu chảy ròng ròng. Ra đến ngoài cửa hầm, anh chỉ nói:
Hôm nay cho tôi nghỉ sớm nhé.
Chỉ một câu nói bình thường như vậy, nhưng ai cũng hiểu anh vừa thoát chết.
Bây giờ, mỗi lần đoàn cựu chiến binh F565 trở lại Thủy điện Hòa Bình, đi trong những đường hầm sáng choang ánh điện, ít ai biết rằng dưới những lớp bê tông ấy là biết bao mồ hôi, nước mắt và cả máu của những người như Trí.
4. Vượng
Vượng nhập ngũ năm 1983, là chiến sĩ Đại đội C211, Trung đoàn 14. Khi ấy, đơn vị đang thi công hầm PV7.
Những người làm công trình ngầm đều hiểu rằng khoan hầm không đáng sợ bằng lúc nổ mìn. Những năm đầu, mỗi khi khoan xong gương lò là có thể nổ mìn ngay. Nhưng đến khoảng năm 1985, khi nhiều đường hầm được thi công cùng lúc, công trường quy định chỉ được nổ mìn tập trung từ 23 giờ 30 đến 24 giờ đêm để tránh ảnh hưởng lẫn nhau.
Một đêm, tôi được giao chỉ huy nổ mìn ở hầm PV7.
Anh em nạp mìn xong, chuyển máy móc ra ngoài, kiểm tra kỹ từng người rồi báo cáo đã sơ tán hết. Tôi ra lệnh điểm hỏa.
Tiếng nổ dội lên. Cả lòng núi rung chuyển.
Khi tôi chuẩn bị cho bật quạt gió để thông khí, bỗng thấy từ trong hầm có một bóng người lảo đảo chạy ra.
Đó là Vượng.
Hóa ra đêm ấy trời nóng. Trong lúc chờ anh em nạp mìn, Vượng đánh máy cào vơ đến gần miệng ống thông gió rồi chui vào trong ngủ. Khi mọi người thu dọn máy móc và kiểm tra quân số, không ai nhìn thấy Vượng nằm trong đó.
Tiếng nổ mìn làm Vượng giật mình tỉnh dậy. Anh tụt từ trong ống thông gió xuống, rồi chạy bán sống bán chết ra ngoài cửa hầm.
Sau khi biết chuyện, chúng tôi vừa sợ vừa buồn cười. Nếu hôm ấy có chuyện gì xảy ra, chắc chẳng ai tha thứ cho mình được.
Năm 2012, tôi có dịp lên Mường La. Trong một bữa cơm, tình cờ gặp những người quen cũ nói chuyện về Sư đoàn 565 và Thủy điện Sông Đà. Nghe chuyện, vợ chủ quán bất ngờ nói:
Chồng em là em trai anh Vượng đấy.
Chị cho tôi số điện thoại. Tôi gọi cho Vượng và kể lại câu chuyện năm xưa. Vượng cười xác nhận tất cả đều đúng.
Chúng tôi hẹn sẽ gặp nhau vào dịp họp mặt đơn vị.
Nhưng mấy chục năm rồi, cuộc gặp ấy vẫn chưa thành hiện thực.
5. Trở lại Thung lũng Sương Mù
Thủy điện Hòa Bình đã phát điện hàng chục năm.
Sư đoàn 565 và Trung đoàn 14 cũng đã hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình. Phiên hiệu đơn vị không còn nữa.
Nhưng với những người lính từng sống ở "Thung lũng Sương Mù", ký ức ấy chưa bao giờ mất đi.
Mỗi lần trở lại nơi đóng quân cũ, chúng tôi lại tìm cây nhãn trên dốc Ban Chính trị, tìm con suối nhỏ, tìm ngọn núi đá phía sau doanh trại. Chúng tôi biết mình không thể tìm lại tuổi hai mươi, không thể tìm lại những đồng đội đã khuất, cũng không thể tìm lại doanh trại năm xưa.
Nhưng chúng tôi vẫn trở về.
Bởi ở nơi ấy, dưới những lớp đá của công trình thủy điện, dưới những con đường đã đổi thay, vẫn còn lưu giữ tuổi trẻ của chúng tôi - tuổi trẻ của những người lính công binh từng sống, từng lao động, từng đối mặt với hiểm nguy và từng đi qua một "Thung lũng Sương Mù" không bao giờ phai trong ký ức.
Nguyễn Minh Quang
Nguyên cán bộ Ban Tham mưu E14, Sư đoàn 565.